Chủ Nhật, 16 tháng 6, 2013

Hẹn trở lại Buôn Mê Thuột


Hai cháu lớn lên trên vùng cao nguyên đầy nắng gió, với đồi, với dốc, với vùng núi rừng có một loài hoa đã ghi đậm trong tâm trí ông. Đó là hoa dã quỳ, loài hoa vàng rực, sống khỏe và vươn cao giữa sương gió núi đồi, giống như hoa Fuki của Nhật mọc và sống mạnh mẽ trên vùng băng tuyết. Người Nhật tôn trọng Fuki như hoa sen của ta. Mà ông thì nghĩ, Fuki giống như hoa dã quỳ của VN, của cao nguyên.

Loài hoa dã quỳ ở đồng bằng, thành phố ít ai biết. Như người Nhật say sưa với hoa anh đào, chứ ít ai chiêm ngưỡng hoa fuki. Hai lần ông lên BMT là hai lần hoa dã quỳ rực rỡ, rung rinh trong cái gió lạnh của núi đồi, cái gió nghiêng nghiêng ngàn hoa làm nao lòng người.

Vâng, ông hứa trở lại BMT vào mùa hoa dã quỳ nở, loài hoa phong sương chứ không cao sang như hoa thược dược, hoa cúc, không quý phái như quỳnh, trà mi, không đằm thắm trang trọng như hồng. Đó là hoa dã quỳ miền hoang dã, hoa dã quỳ của Tâm – Khương.

Xuân 2013

Có phải mùa thu


Mùa thu đã về, nắng vàng lá đổ, gió heo may rung nhẹ vạn cây cành. Sao Sài gòn vẫn nóng, cái nắng chang chang, gay gắt, cái nóng làm vả mồ hôi.

Hẳn Buôn Mê Thuột mới có mùa thu, có cúc vàng đua nở, có tựu trường áo trắng tung bay. Có áo ai phất phơ ngoài ngõ, gom nỗi nhớ một thời. Ve đã im, phượng đã tàn, hoa súng nở bung tím trong hồ nhỏ. Tuổi thơ vời vợi, nhập nhòa mất hút...

Mùa thu Sài Gòn không có đôi cánh rung nhẹ màu xanh, dưới bầu trời chập chùng. Cũng không có một chuyến ra đi. Bởi mới trở về từ phố núi cafe, Bản Đôn, Hồ Lăk. Nhớ những con đường dịu mát, nhớ chiếc cầu tre nghiêng chao khó bước, nhớ làn nước lăn tăn, chiếc thuyền trôi nhẹ giữa hoàng hôn, vàng đỏ một góc trời. Nhớ những nụ cười trẻ thơ ngồi trên lưng voi bước đi chậm rãi, bình minh trên đồi, núi và mặt trời nặng trịch rung rung dưới nước.

Nhớ biệt thự vua Bảo Đại – vị vua cuối cùng của VN, vị vua ăn chơi, phóng túng, nhưng không ích kỷ, vị vua yêu nước và sẵn sàng từ giã ngai vàng, vị vua “tri thời đạt thế”, vì vua có nhiều giai thoại tuyệt vời hơn Phổ Nghi – vị vua cuối cùng của Trung Quốc.

Thu 2012

Ký ức với Ban Mê


Hồ Lak – Đắk Lắk

Từ Buôn Ma Thuột, chúng tôi đến thị trấn Liên Sơn nằm trên bờ hồ Lak, một buổi chiều vàng nắng. Chúng tôi là gia đình viễn thông Đak Lak, trong đó có khoảng 15 bé con của những viên chức, đi du ngoạn cuối hè. Bên ngoài khách sạn đã có hơn 10 xe của du khách từ Sài Gòn đến trước nên khôn còn phòng cho đoàn chúng tôi.

Nơi đây 19g có lễ hội cồng chiêng  nhưng đông quá, chúng tôi cũng không vào được. Đoàn chúng tôi đến nhà sàn trên đường Yrak – dãy nhà sàn vững chắc dài 32m, 18 cửa sổ, được kê 2 dãy giường đơn, chúng tôi ngủ 2-3 người một giường. Vẫn còn thiếu giường. Các thanh niên phải nằm dưới sàn. Không ai ngủ được với muỗi. ..

Nhà khách có sân rộng, nhiều cổ thụ. Trước mặt là những ô ruộng nhỏ, xa hơn là rừng, bên trái là hồ Lak chảy quanh những ngọn đồi, khá rộng. Chiều hôm ấy, chúng tôi thuê thuyền đi một vòng hồ. Đứng giữa hồ mới rộng lớn của hồ, mà một cô giáo đã nói: hồ này rộng nhất nước.

Hoàng hôn đang tô màu ở hướng Tây. Nhiều điện thoại hướng về phía mặt trời. Những đứa trẻ cũng đưa cao Ipad, có em hình như chưa vào lớp 1.

Nơi đây cũng phục vụ điểm tâm và cafe. Sáng chủ nhật, trẻ em và một số bố mẹ, đi cỡi voi một vòng ven rừng, xuống hồ trên lưng 7 chú voi, tốn 3 triệu đồng.

Buổi trưa có món soup của người dân tộc. Cay, đắng, chát, là lạ. Còn lại vẫn thịt, trứng, cá. Có đến biệt thự của vua Bảo Đại, nằm trên đồi cao, nhiều cổ thụ, nhìn xuống bên dưới là hồ Lak, ruộng và rừng. Biệt thự có người trông nom và bán cafe, phía sau luộm thuộm áo quần phơi.

Đứng trước ngôi biệt thự cổ, chụp một bức ảnh, và ghi :
Ta chiêm ngưỡng những con người yêu nước
Đứng nơi đây hoài niệm giữa rừng xanh
Sông núi vẫn linh thiêng như ngày trước
Mà bơ vơ ai nuối tiếc giữa vô cùng.

Từ Krongbong tới Buôn Ma Thuột

Thật thú vị. Đường lên Krongbong như đi vòng vòng trong thung lũng, quanh co, uốn khúc, cua tay trái, quẹo tay phải, mặt trời lúc phía trái, lúc phía mặt. Con đường như vừa đủ hai chiếc xe con song song, không nhiều lo âu và hồi hộp, xe chạy chênh chênh tiếp cận núi gần núi xa...

Thời tiết Krongbong không giống như Đà Lạt, bởi trung dung hơn, nhẹ thoáng hơn. Một ngày ở KB gặp khí hậu của hai mùa, thu đó rồi hè đó.

Bình minh lên, bầu trời mờ ảo vàng đỏ sau màn sương yên tĩnh, ẩn hiện những ngọn núi xa xa, phủ lớp vôn đẹp như một bức tranh. Cành lá vi vu giữa gió núi mây ngàn...

Hoàng hôn cũng tĩnh lặng phủ một lớp mây khói mơ hồ. Vài trẻ thơ như lạc lõng trên đường làng. Từ những chân núi ra đường lộ có nơi gần nơi xa, nhà cửa hai bên đường thưa thớt.

Trung tâm thị trấn có cơ quan hành chính, viễn thông, ngân hàng, quân đội, nhà cửa quán xá xa cách rời rạc. Những xe gắn máy bụi đất chạy về hướng BMT vội vàng trên con đường xuôi xuôi quanh co uốn lượn.

Trở về TP BMT. Đường rộng, cây cao, bóng mát, thỉnh thoảng bắt gặp hai bên đường những chiếc lộc bình màu gỗ cao hơn đầu người được dùng trang trí cạnh những trụ đèn. Rất nhiều quán cafe, cả những làng cafe như Trung nguyên, Không gian xưa, hội quán Thăng Long, Vị Đắng.. TP của cafe đua nở, cả nhà văn hóa thiếu nhi số 3 Lê Duẩn cũng có cafe Bi Bi – nơi tiện cho gia đình có em bé. Con chơi khu giải trí, bố mẹ, bạn bè uống cafe.

Người dân BMT có thể nói : uống cafe nhiều nhất nước. Hàng quán nào cũng đầy xe, đầy người.

Một TP đang lên, lặng lẽ, vững vàng, đầy triển vọng. 

Hè 2012.

Xuân 2012

Xuân đến, xuân qua, xuân lại qua
Lênh đênh chồng chất tuổi thêm già
Cắm cúi xuân đời bay biến cả
Chỉ còn vương vấn những xuân xa.
Bãng lãng trời sương hoa cỏ bay
Năm nay song thất tuổi thay màu
Tóc xanh nhuộm trắng màu mây trắng
Ngẫm nghĩ xuân tàn xuân qua mau.
2012.

Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2013

Những ngày như một phép lạ

Buổi sáng gỡ một tờ lịch. Mồng 1 tết Nguyên đán. Vạn sự như ý.
Rồi mùng 2, mùng 3. Bỗng thương quá những ngày Tết. Những ngày như một phép lạ. Những ngày tuyệt đẹp. Có nắng vàng và gió heo may. Có trăm hoa đua nở khắp cùng và mọi nhà. Những ngày ai cũng được thảnh thơi, vui tươi, ăn ngon, mặc đẹp. Không âu lo phiền muộn và nhận được mọi lời chúc tốt lành.
Nhưng bỗng nhớ mấy câu thơ của Chế Lan Viên:
Có một người nghèo không biết Tết
Mang lì chiếc áo độ thu tàn
Đâu đó xa xôi, hay rất gần...? Những người nghèo không biết Tết?
Gió xuân thổi về chầm chậm và ngập trời những chiếc lá chao nghiêng trong nắng vàng rưng rưng trải lụa. Những ngày xuân, dù thế nào, vẫn là một phép màu tuyệt đẹp. Vẫn những nụ cười. Những ân sủng. Những chăm chút. Vẫn nghĩ về ông bà gia tộc, trên quê hương hạnh phúc.
Xin chào mùa đông lạnh lẽo đã qua.
10.2.2013

Thứ Ba, 29 tháng 1, 2013

Nhớ lại

Em là gái trong song cửa
Anh là mây bốn phương trời
Anh theo cánh gió chơi vơi
Em vẫn nằm trong nhung lụa
Có lẽ mấy câu thơ trong Một mùa đông của Lưu Trọng Lư. Mà thôi. 18 ký Mây ngàn phương cuối những bài thơ của mình. Đặc san: Hoa đất Việt. Nhật báo: Chính luận. Tuần san: Tiểu thuyết thứ bảy. Nguyệt san: Bốn phương.
Rồi một ngày đến Quảng Trị. Ngẩn ngơ trước một cây cầu. Chỉ một cây cầu mà không qua được. Sao gọi là thênh thang, giang hồ, mây ngàn phương. Và một thời trên nhiều trang báo xuất hiện họ Mây nhiều quá: Mây đầu, Mây tím, Mây bốn phương, Mây lang thang. Thế là thôi không ký Mây ngàn phương mà ký: Lưu Ngọc Nguyễn, cũng có bài ký Sơn Chương. Bởi anh bạn Campuchia ngã xuống, lời cuối gọi tên tôi, hay tên anh...
Tôi chôn chân giữa Sài Gòn. Nhưng không được. Bởi trĩu nặng với những nẻo đường.
Đường nhìn ta đó đi đi bạn
Cất nhẹ thân lên giữa phút này...
Thế là lên đường. Duyên nợ với con số 13. Hồi hộp. Gian nan. Gay cấn. Những rừng cao su. Những địa danh: Châu Thành, An Lộc, Lộc Ninh, Tống Lai Chân, Đồng Xoài, Trảng Sụp, Phước Long, những cái tên không nhớ, và Đức Hòa, Đức Huệ, Long An...
Điểm dừng cuối cùng là Long Khánh, và lật qua một trang đời mới.
Khép lại khung trời mơ viễn cũ
Chôn chân từ buổi hồng hoan ca.
Để ngậm ngùi với nước phèn, bùn đen, lao đao vất vả, những đòn roi thời đại. Mồ hôi đổ nhiều, mà chén cơm ít gạo. Bobo, khoai khô và bắp, trôi theo tháng ngày.
Rời bỏ những đám ruộng, bước chân vào phân xưởng nước mắm... Những đứa con ra đời. Không có tiền nuôi ăn học. Một đứa, hai đứa, rồi ba đứa...
Những đứa con không thôi nghĩ về gian lao, vất vả của ba mẹ. Nên học hành không tệ. Từng đứa, từng đứa có học bổng và đi dạy kèm. Ra trường và có việc làm...Cuộc sống gia đình, mỗi ngày một khá hơn.
Sửa lại ngôi nhà tranh sụp nát, mà trước đó mượn một người bạn “đại gia” có hai gian hàng trong chợ Bến Thành và hai người cháu khá giả mỗi người 5 triệu vào đầu năm 2000. Mà đời rách quá. Nên không ai cho mượn. Vẫn mỉm cười vui vẻ. Bởi biết mình nghèo, ai tin có tiền để trả...
Bây giờ thì không lo cơm áo, gạo tiền, chỉ mong có chút dư để giúp đỡ những người vất vả như mình ngày nào. Ước nguyện đó đã phần nào thực hiện được. Cũng làm vui tuổi già.
Cảm ơn cuộc đời, cảm ơn bạn bè, cảm ơn những chân tình hàng xóm.
12.2012

Thứ Năm, 3 tháng 2, 2011

Có một cành mai hoa vài nụ/ Gọi mùa xuân lặng lẽ bên thềm/ Có một ông già bên cháu nội/ Nghe lòng mình hoa bướm thắm êm...

Gửi Nguyễn Tôn Nhan

Nguyễn Tôn Nhan. Sáng nay nghe tin mày bị tai nạn, đã bỏ hành tinh này. Tết lang thang nơi đâu?

Tao đã trở lại Sài Gòn sáu, bảy năm rồi. Nhưng không một lần đến mày. Cuộc đời đã chà xát, đày đoạ tao quá, tâm hồn tao quá đổi thay, và tao ngại cái nhậu của mày, nên không đến. Có lẽ đã tệ qúa với mày.

Tao vẫn còn nhớ bao nhiêu chiều ngồi Kim Sơn, Hà Nội, Mai Hương...với mày, để nhìn các bóng hồng đi qua. À, trường túc! À, tiểu yêu! Ê, hồng diện, đa mi và rất à la mốt!

Bây giờ thì không còn Thánh ca nào nữa, bởi mày đã lang thang ở tinh cầu khác. Chắc Yên Đài ở Mỹ, Nguyễn Nho Nhượng (ở đâu không biết) và Nghiêm Xuân Chương (nơi nào) đều biết tin mày ra đi. Và tao - Mây Ngàn Phương...

Mày bỏ hành tinh này sớm quá đấy. Bình thản và "không hy vọng" nhé! Vĩnh biệt!

30 tháng chạp, Canh Dần

Xuân hoài hương

Mùa xuân về lạnh góc trời
Gió rung nghiêng ngã lá rơi ngại ngùng
Nắng vàng rơi vãi mông lung
Hoa mai nở chậm để không phụ người
Nhớ quê nặng trĩu bùi ngùi
Hội An vẫn thế, muôn đời cổ xưa
Ta về lòng đượm thu mưa
Phong sương cho lắm cũng vừa xót xa
Ngày xuân vàng vọt chưa nhà
Xa xôi đâu lắm cũng đà nặng vai
Em còn săn sóc gốc mai
Sân nhà chớm nở đúng ngày đầu năm
Em còn tha thiết trăng rằm
Ngây thơ với tuổi trăm năm với người
Bây giờ tản mát muôn nơi
Thời gian gậm nhấm hết thời thanh xuân
Ta còn chút nhớ mông lung
Hoài thương ngày cũ trên vùng hoa bay
Thôi em vọng nhớ một ngày
Vàng rơi ngập lối trong tay với người.

Buôn Mê Thuột, mùng 1 tết Tân Mão

Thứ Ba, 9 tháng 11, 2010

Nam Khương

Sau lần Nam Khương kể chuyện cho ông nội nghe qua điện thoại, ông nhận ra con lớn thêm một chút. Hôm thứ bảy vừa rồi, con và gia đình xuống thăm ông nội bệnh, con lanh lẹ hơn, hoạt bát hơn, ông nội rất vui.

Ông nội thương con như chị Tâm, nhưng ông nội hơi bất công với con. Ông đã viết cho chị Tâm gần hai tập "Bước đi vui vẻ", có lẽ do ông bà đã sống với chị Tâm một năm đầu đời. Theo dõi từng bước đi, giấc ngủ, cái ăn ở khu tập thể Bưu điện BMT. Khi con ra đời, ông bà chỉ lên thăm con vài ngày rồi trở về Sài Gòn vì bà nội đang bệnh.

Lần này ông bệnh, con về thăm một ngày rưỡi, 2h chiều CN ra sân bay TSN để về lại nhà. Trong thời gian vui với ông bà và hai cô, con đã vẽ và để lại 3 bức tranh 30x40 chì sơn trên giấy trắng, trong đó có tấm vẽ bánh Sinh nhật tặng cô Nhol. Nhã Tâm thì vẽ một bức 30x40 và một bức 24x36. Thế là các cháu của ông siêu quá rồi. Ông đã nhìn con biểu diễn bằng cả hai tay hai màu, tô thật nhanh.

Những bức tranh vẫn treo trong phòng - luôn có sự hiện diện của các con.

Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2010

Những ngày tháng ở Thiện Ngôn

Nếu sau này có người hỏi
những ngày tháng ở Thiện Ngôn
Ta sẽ ôn tồn
đốt thời gian bằng những giờ ngồi dài trong quán nhạc
Quán nhạc của rừng làm bằng bao cát
với chúng mày, thằng Đoàn, thằng Hiệp, thằng Hưng
để nhớ để thương để mơ từng dòng quá khứ
nẻo đi về phương ấy
những hận thù bưng bít hôm nay
Với cuộc đời như khói thuốc biển khơi
Với bè bạn mắt ánh lên niềm khát vọng
Thanh bình yêu thương ánh sáng
Quê hương mình thao thức hai mươi mấy năm
Ôi Việt Nam oằn oại dưới trăng rằm
Chân thật lắm vẫn làm tên đao phủ
Vẫn làm chính nhân không phủ dụ

Nếu sau này có người hỏi
Những ngày tháng ở Thiện Ngôn
Ta sẽ ôn tồn
Đốt tuổi trẻ theo thời gian sầu hận
Đốt cuộc đời bằng từng chuyến ba lô
Chết cả mảnh hồn với năm tháng âu lo
Tim băng giá linh hồn chiều vắng mặt
Ta vẫn thầm mong không một thằng ngã gục
Dẫu chông gai vất vả
Dẫu khói lửa bập bùng
Hỡi chúng mày, thằng Đoàn, thằng Hiệp, thằng Hưng

Nếu sau này có người hỏi
Những ngày tháng ở Thiện Ngôn
Ta sẽ ôn tồn
Xin cho tôi ly nước
Để soi mặt mình
Để nhớ tha nhân

1972

Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2010

Xuân đoàn tụ

Bảy mươi tư tuổi vẫn mỉm cười

Vì đời đầy ắp những niềm vui

Cháu con về cả xuân đoàn tụ

Chắp cánh cho đời sống thắm tươi

 

Xuân đến xuân đi xuân vẫn đẹp

Tuổi chồng chất tuổi vẫn yêu đời

Cây nhà ấm cúng hoa mai rộ

Rơi rụng bên thềm điểm nét vui

 

Ta có ba con với vợ hiền

Và hai cháu nội tuổi hồn nhiên

Tiếng cười luôn sáng trong hoan hỉ

Nở thắm như hoa chả ưu phiền

 

Năm nay vừa chạm bảy mươi tư

Mà đời vẫn tưởng tuổi bốn mươi

Ai về qua ngõ long lanh mắt

Xin hẹn mai này xuân thắm tươi

Chiều 30

Nắng vàng trải khắp phố phường

Rung rinh cây cỏ ven đường phố cao

Ta đi lòng cũng dạt dào

Nghìn năm xưa xin vẫy chào hôm nay

Mùa xuân chim én cao bay

Hoa mai vàng rừng heo may vội vàng

Gió vờn vạn thọ cưu mang

Cúc hồng dày đặc trên đường phố hoa

Thênh thang thược dược vào nhà

Đứng bên dạ lý như là hờn nhau

Lạc loài ly cũng mời chào

Hương thơm đậm đặc lao xao phong trần

Em đi về nẻo phân vân

Nghiêng màu xanh tóc tần ngần bến xuân.

Thứ Hai, 28 tháng 12, 2009

Những Noel thời trẻ

Đêm 24-12. Bây giờ là 18g45. Trên kênh VTV3 đang tải những hình ảnh giáng sinh, những ông già Noel râu trắng, áo đỏ, những xe tuần lộc và tuyết rơi trắng màn hình.

Ta ngồi trong một căn phòng tầng 2 khu chung cư Chu Văn An (Q.Bình Thạnh) với gia đình - vợ và con gái Lan Nhã. Linh Thoại đi làm chưa về. Nam Quốc ở Buôn Mê Thuột với gia đình. 

Đêm giáng sinh, nhớ lại thời trẻ trước 1975 không vướng bận mọi hệ lụy cuộc đời, không quan tâm nhà cửa áo cơm, chỉ có bè bạn và những hẹn hò vui chơi. Đêm giáng sinh vứt bỏ tất cả những suy tư ray rứt, những dằn vặt chán chường của tuổi trẻ với chiến tranh...để chảy theo dòng người chật cứng trên đường Lê Lợi, Tự Do, Nguyễn Huệ...

Đêm Noel với Tiêu Kính, Chín, Mười, Hồng (Chàng Âu) lang thang, cuối cùng về nhà anh Thân ở cư xá Trương Minh Giảng, đúng 0g Réveillon, và ồn ào... 

Noel với Yên Đài (nhà thơ) và Nguyễn Tôn Nhan, gặp và đi cùng Hồi, Tuyết và Nguyệt – nữ sinh Trưng Vương – trên đường Lê Lợi, hẹn gặp chặng cuối ở nhà thờ Đức Bà. Vừa xoay qua thì Yên Đài đã đưa Tuyết mất hút giữa dòng người. Tôn Nhan đi với Nguyệt. Ta dắt Hồi đi lẹ, ngó lại vẫn thấy Tôn Nhan đi cận. Hồi đẩy Nguyệt ra. Chốc chốc ngoảnh lại vẫn thấy cô cậu đi bên...Cuối cùng họp mặt nhà thờ Đức Bà.

Lúc sắp chia tay mới hỏi Tôn Nhan : Sao cậu không « lặn » mà theo sát vậy ? NT Nhan nói : Trong túi tớ không có một đồng, còn cách nào khác...Cười. 

Một đêm Noel khác với NT Nhan và  Nguyễn Nho Nhượng (nhà thơ) gặp Yến, Hân, Huệ. Cả ba thằng đều không có nhiều tiền. Ba cô bé thì thầm bằng tiếng Quảng Đông, chắc là dân Chợ Lớn. Ba cô định đi ăn. Ta nói nhỏ với Nhan, thế là nhà Hán học tương lai đưa vào cafe Hà Nội. Anh tiếp viên đưa xấp giấy và cây bút. Nhan chia xấp giấy làm 3. Nhan cầm bút không ghi thức uống mà vẽ cô đối diện. Ta cũng vẽ, nhìn sang Nho Nhượng cũng vẽ. Nhan trường phái ấn tượng, với cái sừng trên tóc tượng trưng trong sáng và thông minh, khó hiểu. Ta tự nhiên theo ngẫu hứng. Chỉ Nhượng hiện thực. Nên các bé « ồ, giống quá ! ». Rồi cô nào cũng xin và đề nghị ghi tặng.

Noel với Nguyễn Chí Cao và Cao Doản (cùng trong tờ Hoa Đất Việt), Nguyễn Chí Cao cứ lẽo đẽo theo 3 cô bé tán hoài. Ta và Cao Doản theo sau, cứ thế.. .hết 3 cô này đến 3 cô khác. Thỉnh thoảng Cao thúc lên, ngừng lại chửi thề: Hai thằng mày lên tán mới được chứ, cứ theo sau cười hô hố, mình tao đứa nào theo... 

Những Noel 73, 74 với Phạm Duy Hưng, hẹn nhau vài thằng bạn lính, phòng trà Queen Bee của Khánh Ly. Nơi này thì bổn phận Hưng đặt bàn trước, từ đơn vị dù về, gặp nhau phá phách, ồn ào ...Ca sĩ amateur (tài tử) khá đông. Bài thịnh hành nhất vẫn là Kỷ vật cho em. Cũng bản nhạc này có lần một anh lính bụi bặm, đẹp trai, cụt chân chống nạn lên ca...Ấn tượng và được vỗ tay nhiều.

Những Noel thời trẻ trong chiến tranh chỉ có vậy. Rồi đường ai nấy đi, mất hút vào các địa danh của một thời, sau cái bắt tay và hẹn còn sống hay chưa lang thang trên mặt trăng sẽ gặp lại.

Thôi, ba ngưng đây. Con gái về, khệ nệ với các món ăn nửa đêm.
Điện thoại reo. Từ Nha Trang Tiến gọi chúc mừng giáng sinh. Buôn Mê Thuột Nam Quốc gọi về.
Đêm giáng sinh cả nhà vui vẻ.

Thứ Năm, 10 tháng 12, 2009

Anh Lưu Quý Kỳ

Không nhớ rõ thời thơ ấu sống cùng anh bao lâu, trong ngôi nhà là tiệm thuốc bắc của cậu bên chợ Quảng Huế. Ngôi nhà có căn gác gỗ. Bên phải là chiếc bàn cao hình chữ L, chiếc tủ đứng rất nhiều ngăn kéo, rất nhiều tiềm và thẩu, tất cả vật đựngbên trong là thuốc bắc: sâm, linh, truật, thảo, trần bì, kiết cánh, táo tàu, nhãn nhục. Bên trái là hàng tạp hóa của mợ…

 

Anh Lưu Quý Kỳ là họa sĩ, cả truyền thần. Bởi thuở bé, tôi đã nhìn thấy trong tranh anh một chị người dân tộc, với gùi trên lưng, ống vố trên môi, phì phà khói thuốc lang thang khu chợ Quảng Huế. Hôm đó anh lên gác bảo tôi và Dũng đi xuống. Sau đó chúng tôi len lén lên, thì anh đã vẽ xong, bằng chì than, trên cỡ giấy 50x60 cm: cô gái thượng mang gùi, ngực trần, ngậm ống vố. Dũng nói: giống y chang, Ngọc nhỉ!

 

Rồi anh đi. Vài lần ghé về nhà với chiếc ô tô đen, bốn chỗ ngồi. Rồi anh đi suốt 30 năm. Sau giải phóng 1975, tôi mới gặp lại anh trong ngôi nhà ở đường Điện Biên Phủ.

 

Nghĩ đến anh, tôi nhớ bán nguyệt san Phổ thông của Nguyễn Vỹ. Bài báo “Người tù 79” (ở Trà Khê) viết về Lưu Quý Kỳ  - người tù số (…) là một đảng viên cộng sản, một họa sĩ,  một nhà báo, một thi sĩ, một thợ máy sửa ô tô…Và nhớ một lần chúng tôi đến chơi với anh Bùi Giáng (dân sống Trung Phước mà). Hôm đó chúng tôi đọc Qua đèo ngang của Bà Huyện Thanh Quan. Anh Bùi Giáng hỏi: Chúng mày biết mấy người làm thơ về đèo Ngang? Hai. Không, ba: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bà Huyện Thanh Quan, người thứ ba là Lưu Quý Kỳ, với bài Chị cán bộ Quảng Bình:

 

Tôi trên dốc Ba Rền xuống
Chị dưới dốc Ba Rền lên
Tình cờ gặp gỡ đôi bên
Một chiều mưa lạnh mông mênh núi rừng.

Chị đi chân bước ngập ngừng

Nẻo đường gai góc chập chùng đá cây

Chị ơi!...

 

Anh còn có cái duyên độc đáo của nhà diễn thuyết. Lôi cuốn, hấp dẫn và cảm tình.

 

Rồi một ngày của năm 1982, trời Phan Thiết âm u, nhàn nhạt, tôi nghe tin anh mất ở Thái Lan từ Đài Phát thanh Hà Nội.

 

Anh đi trong giai đoạn người em này khá chật vật. Không có tiền cho một cuốc xe từ Phan vào Sài Gòn, nói gì đến Quảng Nam, Hà Nội.

 

Vĩnh biệt anh.

 

Em cũng vừa đọc lại Ba mươi năm đó bây giờ là đây.

                                         

TB: Viết nhân Lưu Đình Triều – con trai anh vừa cho in tập sách Lưu Quý Kỳ - người nghệ sĩ tài ba độc đáo.

Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2009

Vẫn có đó

 

Vẫn có đó

 

Vẫn có đó rừng chiều rung tiếng gió

Hoa ngọc lan ngào ngạt với thời gian

Mây bay về tan tác bạc gió ngàn

Năm tháng cũ tàn phai theo màu tóc

Ta vẫn có những chiều hoang biền biệt

Cuộc thăng trầm trời đất mãi miết trôi

Chim về đâu mỏi cánh cuối chân trời

Đành khép lại ước mơ thời quá vãng

Em cứ đến cứ đi đầy lãng mạn

Ta giật mình râu tóc nhuốm chua cay

Vẫn có đó những chiều gió heo may

Vàng lá rụng bên cuộc đời du tử

Vẫn có đó ta ngồi nhìn tư lự

Anh hùng xưa hào khí vẫn còn vang.

 

Nam Chương - 25 - 10 / 09

Mùa thu chạm nhẹ

 

Có đàn chim sẻ bay về

Tường rêu ngói tím tứ bề nắng vương

Líu lo chim hót rộn rang

Suối reo thác đổ lá vàng rơi rơi

Mùa thu chạm nhẹ cuộc đời

Vàng phai năm tháng với người thâm niên

Xa rồi những nỗi buồn phiền

Đi về rộn rã triền miên tiếng cười

A ha đất chín trời mười

Non xanh lá biếc tươi vui dặm chiều

Ta còn đầy ắp thương yêu

Thênh thang với những mỹ miều tình ca

DakLak – 10 / 2009

Vọng miền Trung

 

Chiều buông mưa xám góc trời

Xót đau tan tác buồn rơi núi rừng

Vọng từ bão lũ miền Trung

Quê hương ta đó nghìn trùng lầm than

Em về tha thiết Điện Bàn

Tam Kỳ hứng chịu bàng hoàng đắng cay

Thăng Bình nhìn xuống từng ngày

Mỹ Hòa trở gió trắng tay phận người

Tâm hồn bé nhỏ em ơi

Phơi từng trang vở vững lời tương lai

Cuộc đời sao lắm chông gai

Chất chồng khổ ải đến chai kiếp người

Mỗi năm bão lũ tơi bời

Vọng về Trung với muôn lời yêu thương

DakLak 10 – 2009

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2009

Ngược lên nguồn

Sông Thu Bồn dài 200km, từ trên cao 2500m. Tý, Xé, Dùi Chiên chảy về Hội An, Cửa Đại rồi hòa mình vào biển Đông. Đến Vĩnh Điện, dòng song đã tạo nên gò nổi – là làng Bảo An, nơi sản sinh nhiều bật kỳ tài: Phạm Phú Thứ, Phan Khôi, Nguyễn Thị Bình…

 

Từ Hội An, chúng tôi lên Vĩnh Điện theo Quốc lộ 1 qua cầu Câu Lâu, đến Thăng Bình, rẻ phải viếng Mỹ Sơn. Bỏ Quốc lộ 1 lên Quế Sơn, qua khỏi chợ Quế Sơn, vượt đèo xe độ 8km, bên kia chân đèo là Tây Viên. Nơi đây có suối nước nóng, từ ngoài xa, nước đã ấm lên, càng vào gần càng nóng. Hình như vùng đất có quá nhiều lưu huỳnh, nên nước suối có thể luộc chin trứng gà.

 

Anh Đạo và Diệu hướng dẫn tôi và anh nhiếp ảnh – điểm hẹn: Trung Phước. Nơi đây không còn dấu vết ngôi nhà thời thơ ấu mà mùa xuân năm 1952 đã bị máy bay Pháp đánh bom tan tành. Bên kia sông là Đại Bình, còn gọi là Đại Bường. Một làng như hòn đảo thanh bình, không có vết tích chiến tranh. Người dân chỉ di chuyển bằng đò dọc, đò ngang trên song Thu Bồn. Người dân Đại Bình có truyền thống, đi đâu cũng mang về một loại cây ăn trái để gây giống, nên làng có nhiều loại cây, từ măng cụt, khóm, thanh trà, bòn bon, nhãn, cam, quýt…

 

Tuổi thơ những năm tiểu học ở đây với những người bạn nhỏ tuổi nhất ở lớp nhất, bởi chúng tôi ngồi chung lớp với mấy anh chị 18 ~ 20 tuổi. Những cậu bé Bùi Như Sơn, Bùi Anh Hùng, Như Hải, Phan Ngọc, Lưu Quý Dũng ồn ào, phá phách… Nhưng những cậu bé thành đạt sau này như: Hải – bác sĩ bệnh viện Cộng Hòa Sài Gòn, Sơn – phó tỉnh trưởng Mỹ Tho, Ngọc – giáo sư Trần Quý Cáp - Hội An, Dũng – kỹ sư mỏ than Nông Sơn…

 

Vùng Đại Bình – Trung Phước cũng có võ sĩ Hồ Cưu, Hồ Cập, Trần Thế Kỷ. Cái thú của Hồ Cưu là nhiều đêm bơi trên song Thu Bồn từ Phú Gia về Trung Phước, từng đánh bắt loại động vật khổng lồ: Trành (họ hang ba ba, rùa, vít), nghe núi nặng cả 500 ~ 600kg như bộ phản. Anh gặp tai nạn và chết trên dòng sông Thu Bồn. Trần Thế Kỷ đã từng lên võ đài và hạ võ sĩ Tây ở Đà Nẵng. Ở Bảo An anh đã bị lính huyện bắt, quan huyện hỏi họ tên – trả lời: Trần D.M ông, rồi tung chạy, lội qua sông Thu Bồn, mất hút.

 

Từ Trung Phước lên Cà Tang, nơi đây có nhà thờ Tường Linh, bên kia song Cà Tang là mỏ than Nông Sơn, lên Phú Gia. Qua khơi Phú Gia, con thuyền bắt đầu chòng chành, xiêu xiêu đe dọa, con sông bắt đầu hẹp dần và ghềnh đá hiểm trở hơn đầy thách thức, núi non huyền bí, nhiều đoạn sông như thác đổ.

 

Đến Hòn Kẽm, Đá Dừng như bước vào hang động thiên nhiên. Giã từ vô vàn ghềnh thác chao đảo hiểm nguy, như bước vào cửa ngỏ của sự an toàn.

 

Tý, Xé có ngôi nhà cổ tư sản, có hai chị em, người chị đài các như một tiểu thư, người em là cậu tú chơi violon.

 

Người nhiếp ảnh đi với chúng tôi là nhạc sĩ L.X, gọi nhạc sĩ La Hối (tác giả Xuân và Tuổi trẻ) bằng chú, nên thao thao về âm nhạc. Chúng tôi là dân thành phố nên được chiêu đãi khoai lang, khoai mì, trà sữa, café. Trên tủ sách còn có những tờ báo Văn hóa ngày nay, Tân phong, Sáng tạo và những quyển sách như Khung cửa hẹp, Hòa âm điền dã, Dịch hạch do Vũ Đình Lưu, Bùi Giáng dịch và những tác phẩm của Hermann Hesse, Jean Paul Sartre, Dương Nghiễm Mẫu, những tập nhạc của Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng.

 

Nơi đây có bốn câu ca mà vài tờ báo đã in sai một từ:

Ngó lên Hòn Kẽm, Đá Dừng

Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi

Thương cha nhớ mẹ thì về

Nhược bằng thương kiểng nhớ huê thì đừng

 

Vài tờ báo đã in sai: nhớ quê thì đừng. Nhớ quê thì không còn nghĩa. Thương cha nhớ mẹ thì về, cha mẹ ở đâu mà nhớ quê thì đừng, nhớ huê mới đúng.

 

.......................

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2009

Bích Ngân

… “Trái đất này là của chúng mình”

 

Em còn nhớ lời ca đó không?

Chúng ta là con người, con người bé nhỏ giữa vũ trụ bao la. Chúng ta cam chịu một hệ lụy thiên nhiên, phục tùng mọi đưa đẩy của thời cuộc, của không gian. Với em, anh nhìn ra còn biết bao nhiêu ưu ái. Quê hương xa cách nghìn trùng, nhưng dù sao thỉnh thoảng em còn họp mặt đại gia đình…

 

Còn anh, anh chỉ là kẻ cùng đinh, lạ mặt ngay trên quê hương cha mẹ anh em mình. Anh đi như kẻ mộng du trên đường phố Sài Gòn. Đà Nẵng anh không nhìn ra lối về. Còn Hội An, sao mà lạc lõng, sao mà xa lạ. Có một đêm bên bờ sông Hoài, đứng giữa những người cao to, anh thầm nghĩ: quê hương nào đây. Nó thênh thang chứ không loanh quanh chật hẹp những con phố ngày xưa. Con đường Hoàng Diệu rợp bóng cây cùng sân tennis cũng bốc hơi, không còn. Tìm đâu ra những gánh “lục tàu xá” vuông vuông gỗ cũ; gánh “mì Quảng” để ngồi xuống lề đường, cả bọn ăn vui vẻ, ngon lành, đúng là mì Quảng; “lường phảnh” buổi trưa; bánh mì chả buổi sáng; gánh cơm gà ông Quên buổi tối.

 

Hội An đã biến thể, lạ lẫm làm sao. Hội An được giữ lại những mái ngói âm dương đen, những tường rêu phong mốc thếch. Một khối áp a gượng ép, chắp vá. Hội An của thời thượng, chứ không còn phố cổ. Mấy ngôi chùa được tu bổ khang trang để chào mời du khách.

 

Anh bỗng nhớ một chiều xưa… Sài Gòn có mưa. Em, Ngọc và Jacqueline chạy tạc vào hàng hiên Kim Sơn. Nhìn quanh quất tìm anh vì nghĩ buổi chiều anh vẫn thường ngồi đây. Có cái ống vố đen, sần sùi tẩu thẳng, gói thuốc Seventy- nine trên một chiếc bàn. Anh từ bên trong bước ra, ngạc nhiên khi trông thấy em. Bảo vào trong thì không chịu, bảo sang Brodard, vì “ở đây em sợ”. Còn nhớ em nói: Thiên hạ nhìn quá. Em và Ngọc con nít, thiên hạ nhìn Jacqueline đấy… Mà Jacqueline cũng con nít, bao giờ chính thức bước vào giảng đường đại học, mới tạm gọi là lớn, là bạn tri thức… Mỗi anh là lớn, là già cả nghìn tuổi hơn những cụ già.

 

Mà thôi, bây giờ cả năm anh không đi bộ trên lề đường Lê Lợi, Tự Do. Rất xa lạ cả những mùa Noel. Dù anh đang ở Cư xa Đô Thành hay quận Bình Thạnh.

Anh – ông nhà quê xuống tỉnh.